NỘI DUNG TUYÊN TRUYỀN NGÀY PHÁP LUẬT NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM (9/11)

Tháng Mười 26, 2016 9:53 chiều

NỘI DUNG TUYÊN TRUYỀN NGÀY PHÁP LUẬT

 NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM (9/11)

  1. Hiếp pháp 1946 – Sự ra đời của Ngày Pháp luật

Ngay từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vừa mới ra đời sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định một trong những nhiệm vụ cấp bách của nước ta là phải xây dựng cho được một bản Hiến pháp. Người chỉ rõ: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do, dân chủ. Vì vậy, chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ”.

Thực hiện nhiệm vụ cao cả đó, vào ngày 9/11/1946, Quốc hội khóa I đã thay mặt toàn thể nhân dân Việt Nam thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta. Ngày này đã thật sự đi vào lịch sử dân tộc ta như là một mốc son chói lọi, khẳng định tư cách chủ nhân đất nước của mỗi người dân đất Việt. Ðây thật sự là một bản Hiến pháp dân chủ, tiến bộ, không kém bất cứ một bản Hiến pháp nào trên thế giới, đó là sự kết tinh những giá trị cao cả của thời đại, mang đậm hơi thở ấm áp của nền độc lập, tự do và thấm đẫm tinh thần dân chủ về xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh: “Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Hiến pháp năm 1946 đã đặt nền móng để chúng ta xây dựng một Nhà nước pháp quyền, mà ở đó tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân và mỗi công dân Việt Nam phải có nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, tôn trọng Hiến pháp và tuân theo pháp luật. Tư tưởng lập hiến, giá trị dân chủ, quyền con người, quyền công dân, tư tưởng và mô hình tổ chức nhà nước của dân, do dân và vì dân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1946 luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt ở các bản Hiến pháp sau này và toàn bộ hệ thống pháp luật của nước ta hiện nay.

Bước vào giai đoạn phát triển mới, Đảng ta khẳng định: cùng với đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, phải tích cực xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; phải ra sức tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, hiệu quả thi hành pháp luật mà khâu đầu tiên là nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Vì vậy, ngày 20-6-2012, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, trong đó quy định: Ngày 9-11 hằng năm là Ngày Pháp luật nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nhằm tôn vinh Hiến pháp và pháp luật, giáo dục ý thức thượng tôn pháp luật cho mọi người trong xã hội. (Điều 8, Luật Phổ biến giáo dục pháp luật)

Như vậy, sau quy định của Hiến pháp về ngày Quốc khánh, chúng ta có một đạo luật quy định về một sự kiện chính trị – pháp lý được tổ chức hằng năm, đó là ngày Pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (11/9).

  1. Ngày Pháp luật – Ngày toàn dân thượng tôn Hiến pháp và pháp luật

Ngày Pháp luật được tổ chức hằng năm nhằm tôn vinh Hiến pháp và pháp luật, đề cao giá trị của Hiến pháp và pháp luật trong Nhà nước pháp quyền, giáo dục ý thức thượng tôn pháp luật cho mọi người trong xã hội. Với ý nghĩa đó, trong ngày này, mọi tổ chức và cá nhân tập trung nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật, góp phần đưa các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, tạo sự lan tỏa sâu rộng để từ một ngày này tiến đến tất cả các ngày còn lại trong năm đều là Ngày Pháp luật. Từ đó, xây dựng niềm tin, tình cảm, thái độ, hành vi ứng xử phù hợp với qui định của pháp luật, ý thức bảo vệ pháp luật của toàn dân.

Thông qua Ngày pháp luật, giá trị con người có nhân cách tiếp tục được đề cao; đề cao ý thức làm chủ, tôn trọng kỷ luật, tự do trong khuôn khổ pháp luật; coi trọng các giá trị đạo đức tốt đẹp; ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, lòng yêu nước, xây dựng lối sống văn hóa, nếp sống văn minh; bồi dưỡng ý thức và phát huy giá trị văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại là những điều kiện quan trọng góp phần hình thành con người về mặt tâm hồn, nhân cách, để mỗi người tự ý thức về mình và về cộng đồng, quê hương, đất nước. Đây chính là yếu tố tạo nên sự bền vững của ý thức pháp luật, kỷ cương, phép nước, phát huy triệt để tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc cùng tích cực hành động vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Năm 2016 là năm thứ ba triển khai thi hành Hiến pháp 2013, Hiến pháp của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Do vậy, việc tổ chức Ngày Pháp luật năm nay thật sự trở thành hoạt động chính trị – pháp lý sâu rộng, nhằm đưa các quy định của Hiến pháp và pháp luật đi vào thực tiễn cuộc sống. Chủ đề của Ngày Pháp luật năm 2016 là “Tìm hiểu, học tập và chấp hành pháp luật là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi công dân

*GIỚI THIỆU CÔNG ƯỚC LIÊN HỢP QUỐC VỀ QUYỀN TRẺ EM

Công ước quyền trẻ em là văn bản quốc tế đầu tiên đề cập đến quyền trẻ em theo hướng tiến bộ, bình đẳng, toàn diện và mang tính pháp lý cao.
  Công ước được Đại Hội đồng Liên hợp quốc chính thức thông qua ngày 20 tháng 11 năm 1989, theo Nghị định 44/25. Công ước có hiệu lực và trở thành Luật quốc tế từ ngày 2 tháng 9 năm 1990, khi đã có 20 nước phê chuẩn. Nước đầu tiên trên thế giới phê chuẩn Công ước là Gana. Tính đến năm 2002 đã có 191 nước ký và phê chuẩn, tham gia. Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới và là nước đầu tiên ở châu Á đã ký cam kết thực hiện. Ngay sau ký cam kết, Nhà nước ta đã ban hành một hệ thống các văn bản pháp luật cũng như xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy từ trung ương đến cơ sở bảo đảm cho sự nghiệp bảo vệ,chăm sóc và giáo dục trẻ em được thực hiện ngày càng có hiệu quả.

Công ước gồm 54 điều khoản với nội dung quy định các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, nêu rõ các nguyên tắc, các quyền khác nhau, các cơ chế theo dõi và thực hiện. Trong đó, 41 điều khoản đề ra các quyền của tất cả trẻ em, các quyền đó là không thể chia tách. Các điều khoản bao gồm cả những nội dung các quyền về tự do dân sự, môi trường gia đình và các biện pháp thay thế trong chăm sóc sức khỏe, giáo dục, các hoạt động văn hóa giải trí, các biện pháp bảo vệ đặc biệt.

Những nét chính của Công ước được thể hiện tập trung ở bốn nhóm quyền, ba nguyên tắc

Bốn nhóm quyền:  

+ Các quyền được sống còn: bao gồm các quyền được sống, quyền được chăm sóc sức khỏe và y tế ở mức cao nhất có thể được (Điều 7, 8, 9, 19, 20, 21, 23, 26, 27, 32, 33, 34, 35, 38).

+ Các quyền được bảo vệ: bao gồm việc bảo vệ trẻ em  thoát khỏi mọi phân biệt đối xử, lạm dụng hay không được quan tâm , bảo vệ trẻ em không có gia đình cũng như bảo vệ trẻ em tỵ nạn (Điều 2, 7, 10, 11, 16, 19, 20, 21, 22, 23, 25, 30, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40).

+ Các quyền đựợc phát triển: bao gồm mọi hình thức giáo dục (chính thức hoặc không chính thức) và quyền được có mức sống đầy đủ cho sự phát triển về thể lực, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và xã hội của trẻ (Điều 5, 6, 7, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 17, 28, 29, 31).

+ Các quyền được tham gia: bao gồm quyền được bày tỏ quan điểm của mình trong mọi vấn đề liên quan đến trẻ em (Điều 12, 13, 15, 17, 18).

Ba nguyên tắc cơ bản xuyên suốt :

Bao trùm tinh thần của Công ước, đồng thời là cơ sở để diễn giải tất cả các quyền khác:

+ Trẻ em được xác định là tất cả những người dưới 18 tuổi. Theo pháp luật nước ta, trẻ em được quy định gồm những người dưới 16 tuổi.

+ Tất cả các quyền và nghĩa vụ được nêu trong Công ước đều được áp dụng một cách bình đẳng cho tất cả trẻ em mà không có sự phân biệt đối xử.

+ Tất cả những hoạt động được thực hiện đều cần phải tính đến các lợi ích tốt nhất của trẻ em.

Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 là điều ước quốc tế đa phương phản ánh tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ quyền trẻ em cũng như sự quan tâm của các quốc gia đối với thế hệ trẻ. Lần đầu tiên, Công ước về quyền trẻ em đã khái quát được các khía cạnh của quyền trẻ em và xác định rõ nghĩa vụ của các quốc gia trong việc bảo đảm quyền của trẻ em và mỗi quan hệ giữa quyền trẻ em với quyền con người nói chung. Và để thực thi Công ước, Điều 43 của Công ước quyền trẻ em năm 1989 quy định thành lập Uỷ ban về quyền trẻ em nhằm xem xét sự tiến bộ mà các quốc gia thành viên đạt được trong việc thực hiện các nghĩa vụ mà họ đã cam kết thông qua các báo cáo định kỳ. Đồng thời theo Điều 45, bên cạnh Uỷ ban về quyền trẻ em thì các cơ quan chuyên môn, UNICEF và các tổ chức khác thuộc Liên hợp quốc cũng có thẩm quyền giám sát, giúp đỡ các quốc gia thành viên trong quá trình thực hiện Công ước.

*NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT TRẺ EM 2016

Kể từ ngày 01/6/2017, Luật trẻ em, được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 05/4/2016 có hiệu lực thi hành, thay thế Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004. Luật trẻ em năm 2016 có 07 chương, 106 điều với một số nội dung mới, như sau:

Thứ nhất, về tên gọiLuật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 được đổi thành Luật trẻ em. Sự thay đổi về tên gọi này vừa ngắn gọn vừa phản ánh đầy đủ hơn nội dung và phạm vi điều chỉnh của Luật về đối tượng đặc thù là trẻ em.

Thứ hai, về nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt: Ngoài các nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đã được nêu trong Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, Luật trẻ em năm 2016 đã quy định thêm các nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt như trẻ em bị tổn hại nghiệm trọng về thể chất và tinh thần do bạo lực; trẻ em bị bóc lột; trẻ em bị mua bán; trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo hoặc bệnh phải điều trị dài ngày thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo; trẻ em di cư, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha, mẹ hoặc không có người chăm sóc.

Thứ ba, về các quyền và bổn phận của trẻ em: Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013 và Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em, Luật trẻ em năm 2016 quy định 25 nhóm quyền của trẻ em, với nhiều quyền được bổ sung như: quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền bí mật đời sống riêng tư; quyền được chăm sóc thay thế và nhận làm con nuôi; quyền được bảo vệ để không bị xâm hại tình dục, không bị bóc lột lao động, không bị bạo lực, không bị mua, bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt; quyền được bảo vệ trong tố tụng và xử lý vi phạm hành chính; quyền được bảo vệ khi gặp thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung đột vũ trang; quyền được đảm bảo an sinh xã hội; quyền của trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nan.

Ngoài ra, kế thừa Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, các bổn phận của trẻ em được quy định cụ thể trong Luật trẻ em năm 2016 phù hợp với chế định về nghĩa vụ công dân của Hiến pháp 2013, trẻ em có bổn phận đối với gia đình, nhà trường, cộng đồng, xã hội, quê hương, đất nước và chính bản thân các em.

Thứ tư, về việc bảo đảm thực hiện chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật quy định các chính sách cơ bản của Nhà nước để bảo đảm trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, bảo đảm điều kiện vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao, du lịch và thông tin, truyền thông cho trẻ em. Đây là căn cứ quan trọng để Nhà nước ban hành các chính sách cụ thể thực hiện đầy đủ các quyền trẻ em phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội và giải quyết các vấn đề có liên quan đến trẻ em phát sinh trong thực tế.

Thứ năm, về bảo vệ trẻ em, khắc phục hạn chế của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, chưa quy định một cách rõ ràng các biện pháp bảo vệ trẻ em ba cấp độ, Luật trẻ em năm 2016 quy định cụ thể biện pháp bảo vệ trẻ em từ phòng ngừa, hỗ trợ đến can thiệp cùng với trách nhiệm thực hiện của các cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân để bảo đảm trẻ em được an toàn, được hỗ trợ và cạn thiệp kịp thời khi có nguy cơ hoặc đang bị xâm hại. Luật cũng quy định cụ thể các loại hình, điều kiện hoạt động, thẩm quyền thành lập, cấp đăng ký, đình chỉ, chấm dứt hoạt động đối với cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em. Ngoài ra, Luật còn quy định việc áp dụng các hình thức chăm sóc thay thế đối với trẻ em nhăm bảo đảm trẻ em được sống trong môi trường gia đình và được chăm sóc thay thế khi bị mất môi trường gia đình hoặc không thể cùng cha đẻ, mẹ đẻ.

Thứ sáu, về quyền tham gia của trẻ em vào các vấn đề về trẻ em, Luật quy định phạm vi, hình thức trẻ em tham gia vào các vấn đề về trẻ em và các biện pháp bảo đảm sự tham gia của trẻ em trong gia đình cũng như bảo đảm sự tham gia của trẻ em trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác. Đặc biệt Luật trẻ em năm 2016 quy định rõ tổ chức đại diện tiếng nói, nguyện vọng của trẻ em là Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và cũng là tổ chức giám sát việc thực hiện quyền trẻ em theo ý kiến, nguyên vọng của trẻ em.

Ngoài ra, Luật trẻ em năm 2016 còn quy định cụ thể trách nhiệm chủ trì, trách nhiệm phối hợp của các cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân và cơ sở giáo dục trong việc bảo đảm thực hiện quyền trẻ em; việc tổ chức phối hợp liên ngành giữa các cơ quan, tổ chức, giữa các địa phương trong việc giải quyết các vấn đề trẻ em, thực hiện quyền trẻ em./.